Kỹ năng mềm hay kiến thức cứng kỹ năng nào quan trọng

Điều đó đồng nghĩa với việc giảng viên được trao quyền nhiều hơn để quyết định họ sẽ nói gì và giải phóng khỏi rằng buộc cứng nhắc những nội dung bắt buộc trong “giáo án của Bộ”.
ki-nang-mem-8morning-560x420
Tóm tắt: Chúng ta vẫn thường “ném đá” giáo dục Việt Nam sao mà chán. Bài viết nhằm mục đích cung cấp góc nhìn mới, để biết đâu, mọi người nhận ra điều gì đó và “ném đá” đúng chỗ hơn. Bài viết cũng bàn về sự mất niềm tin đối với bằng cấp, dẫn đến tình huống “Lựa chọn ngược”. Tư duy phản biện được nhắc đến như một cách để việc học trở nên “có ích” hơn. Và, cuối cùng: Tôi nói gì khi nói về cải cách giáo dục?!…

London, 21 tháng 10, 2015

Đặng Huỳnh Mai Anh

Tính đến nay, tôi đã sang London học được 6 tuần, nghĩa đã vượt qua lần đi nước ngoài lâu nhất trước đây. Và, vì là đi học, nên nhìn chung mọi thứ đã không còn “fancy” như những chuyến đi ngắn hạn để giao lưu, để du lịch hay đi hội thảo. Bạn tôi bảo, sở dĩ là vì khi mình đi ngắn ngày hay mới tới, thì người ta sẽ tạo điều kiện cho mình đi chơi, còn tụ tập, còn chào đón, tạm gọi đấy là “Honeymoon phase”, khi mà đã xác định chuyến này không “đi chơi” hay “vừa chơi, vừa học” (học ít hơn chơi) thì nó đã trở về nếp sống thường (thường thường cũng chán nản đôi khi).

Tôi thì thấy mình đang trong trạng thái chẳng phải tuần trăng mật gì nhưng cũng không đến nỗi lao đao tinh thần, vì tôi đã có một người bạn cùng phòng thích chăm sóc người khác (vừa vặn tôi lại là người thích ĐƯỢC chăm sóc), tôi cũng chuẩn bị tinh thần cho việc học hành và… nghe tiếng Anh, cho nên dù có vất cả cũng không đến nỗi khốn đốn. Nhìn chung, thì tôi thích việc học của mình và biết cần học thế nào cho hiệu quả (Điểm này thì phải quay lại cảm ơn VCREME lần nữa vì những kiến thức và thử thách đã cho tôi trải qua).

Tuy nhiên, cần giải thích thêm ít nhiều ở điểm “Thích học”. Suy nghĩ của tôi trước đây (và có lẽ nhiều bạn khác cũng nghĩ như thế) là: Nền giáo dục của Việt Nam quá chán. Vì thầy cô chán, giáo trình chán, cho nên mình không thích học. Và bây giờ, khi đã được học qua nền giáo dục khác (mà không thể đổ là quá tệ) để có thế đối chiếu so sánh, tôi thấy rằng, VỀ HÌNH THỨC, vẫn chán y như cũ. Chúng ta định nghĩa về sự “Dạy hay và học hay” như thế nào?Nếu chúng ta định nghĩa rằng đó là một mô hình hoàn toàn cách tân mà lý tưởng rằng ở đó sinh viên chiếm vai trò trung tâm và chủ động, nói nhiều hơn cả giáo viên, rằng ở đó lớp học vui và thú vị như đi xem phim 3D, và không có không khí “gây mê cục bộ”, thì tôi thấy ở nước ngoài cũng “chán y” như ở Việt Nam: tức là thầy vẫn nói miên man, vẫn ghi bất tận, sinh viên vẫn chép chép, thỉnh thoảng hỏi lác đác.

Tôi lấy đây làm ví dụ để chứng tỏ rằng, chưa kể đến nội dung, lập luận và sự hiểu biết của giáo sư, quy mô, trang thiết bị, nhìn sơ qua lớp học trông có vẻ vẫn rất buồn ngủ với nhiều người.

Chuyện bằng cấp và “Lựa chọn ngược”

Như thế, sự học chưa bao giờ là sôi nổi và hào hứng. Sự học nhìn chung ở đâu cũng vất vả và có thể đáng chán, bất kể là nền giáo dục tân tiến hay nền giáo dục bị ném đá. Vì chán học và tin nền giáo dục nước nhà rất đáng chán, chúng ta đón nhận các xu hướng sau:

(1) đánh bật kiến thức cứng

Các bạn trẻ dù mang tiếng đi học ĐH, nhưng thường cúp học (từ bỏ kiến thức cứng) để tham gia các hoạt động bên ngoài hoặc đi làm thêm (tích lũy kỹ năng mềm) – trong phạm vi bài viết tôi xin chưa bàn tới các lý do hoàn cảnh bắt buộc khác, như vì gia cảnh – điều kiện tài chính buộc phải đi làm thêm. Vì theo các bạn “kiến thức cứng” không thực tế, trong khi “kỹ năng mềm” trông có vẻ thiết thực hơn. Đồng thời, các diễn giả, các doanh nhân, các cuốn sách phát triển bản thân và các chương trình đào tạo kỹ năng mềm, không ngừng tung ra những thông tin đầy thuyết phục và những phát biểu hùng hồn về kỹ năng mềm (trong khi trường lớp – thầy cô, phe lẽ ra nên đứng lên bênh vực kiến thức cứng thì lại có tiếng nói quá yếu ớt và mờ nhạt). Tất yếu, chúng ta tạo ra thế hệ cử nhân mạnh kỹ năng mềm, kiến thức cứng thì hên xui.

(2) Mất niềm tin vào bằng cấp

Cần hiểu rằng, kỹ năng mềm là sự đầu tư mang tính chất ngắn hạn. Tôi không phủ nhận tầm quan trọng của kỹ năng mềm, nhưng bạn chỉ có thể làm cho mọi thứ thuận lợi hơn chứ thực tế không thể tạo ra giá trị gì nhiều từ việc: Biết cách viết CV hay, biết cách trả lời phỏng vấn, biết cách “Đắc nhân tâm”.

Chúng ta cần những cách tân và đột phá, điều này dựa trên kiến thức. Nhưng chúng ta thiếu những kiến thức nền tảng để đi xa hơn và để dựa vào đó tạo ra những phát kiến. Người ta hay bảo chuyện học tập quả là phi thực tế, tôi cho rằng đó là một sự mất niềm tin. Và xin nói ngay là cần phân minh tách bạch giữa: bằng cấp và giáo dục – Giáo dục là quá trình trang bị kiến thức và nền tảng phân tích, và bằng cấp là tín hiệu chuẩn hóa cho kiến thức (Cũng như cao thấp thì đo bằng thước, nặng nhẹ đo bằng cân, bằng cấp là thước đo tương đối cho kiến thức). Một người cầm trên tay bằng cử nhân và không thể áp dụng được điều gì họ học, thì cũng có 2 khả năng: một là, kiến thức cung cấp có vấn đề (lỗi của nền giáo dục); hai là, bản thân họ đã không hề học, hoặc không để tâm vào việc học (lỗi này của cá nhân).

(3) Mất niềm tin làm chất lượng giáo dục đi xuống trầm trọng hơn

Và khi xã hội nhìn chung mất niềm tin vào bằng cấp, họ sẽ có cái nhìn “rất định kiến” về những người cầm trong tay tấm bằng – các “tiến sĩ giấy”. Trong xã hội vẫn tồn tại song song “tiến sĩ giỏi” và “tiến sĩ dỏm”, định kiến lại thiên về việc cho rằng tiến sĩ thì nhiều cơ may là “dỏm” hơn là làm được tích sự gì. Nên nếu một tiến sĩ có thật sự giỏi, cũng không được xã hội nhìn nhận như mức họ xứng đáng. Và tôi thấy rất công bằng khi người giỏi tìm đến nơi họ được công nhận, hơn là một xã hội luôn hoài nghi về bằng cấp và “sự học” của họ. Những tiến sĩ giỏi (không được đánh giá đúng) đã tìm sang các đất nước khác – Đó là chảy máu chất xám. Và khi mất đi các tiến sĩ giỏi, số lượng tiến sĩ “dỏm” trong xã hội sẽ trở nên nhiền hơn, lại càng củng cố niềm tin của mọi người rằng: “Tiến sĩ thì thường là dỏm và không làm được tích sự gì”.
Như thế càng mất niềm tin vào giáo dục, thì nền giáo dục và số lượng tri thức thật sự càng đi xuống.

Kinh tế gọi đó là “Lựa chọn ngược” (Adverse Selection).

Tư duy phản biện: Là biết cách hỏi

Tôi không bảo là nền giáo dục tệ thì không đáng bị ném đá, nhưng chẳng qua là ném cũng cần đúng chỗ mới có tác dụng và chúng ta nên nhìn vấn đề ở góc nhìn công bằng hơn, rằng chuyện học có hay và hiệu quả không, phần nhiều còn nằm ở bản thân người học: khả năng phân tích, hấp thụ, áp dụng và tìm ra cái hay từ những gì được học.

Nhưng không có nghĩa cứ chăm học, cứ đọc cả vạn cuốn sách thì sẽ trở nên giỏi giang. Tôi thấy rằng, việc chăm chỉ chẳng đưa ta đến đâu nếu chúng ta không chăm chỉ một cách đúng đắn. Tư duy phản biện (Critical Thinking) giúp chúng ta làm được điều này.

Cho dù là học ở trường lớp hay là học ngoài đường phố, học qua Internet hay là tự học, chúng ta đều cần Tư duy phản biện, như là một lưới lọc chọn nhặt lại những thông tin quan trọng nhất, lọc được những cái hay trong cái chán, hiểu được bản chất và biết phần nào trong một núi kiến thức có thể áp dụng được vài thực tế. Chính Tư duy phản biện này tạo ra sự khác biệt giữa nền giáo dục tốt và nền giáo dục chưa tốt, giữa học vẹt và học hiệu quả, giữa “tiến sĩ giấy” và “tiến sĩ thật”.

Giáo sư Tony Wagner, chuyên gia thường vụ, new Innovation Lab – Đại học Harvard, từng nói rằng: Vai trò của giáo dục để truyền tải kiến thức đã thuộc về thế kỷ trước, khi mà kiến thức còn rất hạn chế và khó tiếp cận, người ta còn cặm cụi ngốn hàng núi sách vở trong thư viện và ngoài thầy cô ra không còn cách nào giải đáp các thắc mắc. Còn ở thời đại của Internet hiện nay, kiến thức đã “mở” cho mọi người, cần gì cứ google, có hàng ngàn thư viện và phương tiện trực tuyến để bạn tiếp cận kiến thức, thì vai trò của giáo dục là truyền cách tư duy và phân tích vấn đề, để người học tách lọc trong ngập ngụa những thông tin đó.

Giáo sư cũng có nói về tư duy phản biện và ông bảo: Tư duy phản biện không có nghĩa là đặt một loạn những câu hỏi, mà là đặt những câu hỏi ĐÚNG. Nói nôm na, một định nghĩa hẹp của Tư duy phản biện là: BIẾT CÁCH HỎI.

Có vẻ như chúng ta luôn “tự ti” về đặc tính hướng nội của ngươi phương Đông. Chúng ta luôn chê trách người học không chịu hỏi. Bị hấp dẫn bởi sự chủ động từng được đề cao trong giáo dục phương Tây, nhiều người ngộ nhận: cứ hỏi (dù hay dù dở) mới là tốt, mới ham học và biết phản biện. Nhưng việc hỏi một cách không chọn lọc lại có phản ứng ngược: làm người ta lười suy nghĩ tự tìm ra câu trả lời cho chính mình trước và lười cả việc nhìn nhận xem đâu là vấn đề trọng tâm cần phải hỏi. Khi tôi đem chuyện này bàn với bạn cùng phòng của tôi trong lúc ăn mì gói buổi sáng. Bạn tôi có trích dẫn một câu danh ngôn khá hài hước của Mark Twain: “Thà là im lặng, cứ để mọi người tưởng là mình ngu ngốc, còn hơn mở miệng (nói linh tinh) và mọi người chẳng cần phải nghi ngờ gì nữa” (It’s better to keep your mouth shut and appear stupid than open it andremove all doubt). Không phải cứ hỏi nhiều là tốt, chúng ta cần có trách nhiệm với câu hỏi của mình.

Vậy vai trò của giáo dục trong thế hệ mới (nếu tôi có được hỏi: “Ý kiến của bạn về cải cách giáo dục thế nào?”) là hướng dẫn người học cách tư duy trên. Điều đó có nghĩa rằng, chúng ta không nên cố nhồi nhét thông tin và kiến thức vào một tiết học, để giáo viên/giảng viên phải toát mồ hôi chạy theo giáo án và liên tục sợ bị cháy giờ. Nội dung một tiết học nên được giảm lược bớt, tập trung vào những thứ bản chất, có thể giảng ít nội dung nhưng đi sâu và hình thành được mạch suy nghĩ. Suy cho cùng, người học có cả một núi thông tin trên mạng, họ chỉ cần một chìa khóa tư duy để mở núi thông tin đó ra. Điều đó đồng nghĩa với việc giảng viên được trao quyền nhiều hơn để quyết định họ sẽ nói gì và giải phóng khỏi rằng buộc cứng nhắc những nội dung bắt buộc trong “giáo án của Bộ”.

Tư duy phản biện: Kỹ năng mềm hay Kiến thức cứng

Vấn đề cuối cùng tôi đặt ra là: Tư duy phản biện quan trọng như thế, nhưng chúng ta nên phân nó vào Kỹ năng mềm hay Kiến thức cứng? Vì theo quan sát của tôi, đa phần các nguồn vẫn phân tích Tư duy phản biện từ khía cạnh kỹ năng mềm, tôi hoàn toàn đồng ý và sẽ không “dành chữ” bàn sâu thêm một vấn đề đã được bàn nhiều. Trong đoạn cuối, tôi xin tiếp cận nó từ khía cạnh kiến thức cứng. Tôi cho rằng việc học kiến thức, nhìn chung khá giống xem phim “Cô dâu 8 tuổi”. Tức là dài đằng đẵng và có nhiều đoạn slow-motion đến mất cả kiên nhẫn. Một điểm nữa là, bạn không thể cứ thế nhảy vào tập 100, xem và hiểu chuyện gì đang xảy ra. Bạn không biết ai đang yêu ai, ai đang độc thân (Vì sao?), ai đang cưa cẩm ai (cũng lại vì sao?). Việc tích lũy kiến thức cũng thế, là một bộ phim dài tập, và cần phải xem lần lượt các tập, tập này kết nối và giải thích tập kia. Để hiểu một kiến thức mới, để có nền tảng tự học, để có “vốn” đem phân tích, phản biện các thông tin và “tranh cãi thời cuộc”, chúng ta cần một nền tảng kiến thức tích lũy từ trước. Và việc tích lũy ấy cần có hệ thống (không phải gặp đâu chộp đấy). Tôi gọi cái nền tảng ấy là: Kiến thức cứng.

Cùng Danh Mục:

Nội Dung Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *